5 thg 3, 2014

Nhạc tính trong thơ ca chống Mỹ

Nhạc tính trong thi ca chống Mỹ
       Văn học là thư kí trung thành của lịch sử. Mọi biến động dù lớn hay nhỏ cũng được các nhà văn thức thời, nhanh chóng chuyển tải vào các tác phẩm.Văn học cách mạng Việt Nam được coi như một cuốn “biên niên sử” về cuộc chiến tranh cứu quốc nhiều gian lao nhưng cũng lắm huy hoàng. Và góp một phần vào thành công ấy không thể không kể đến thơ ca thời chống Mỹ.  Nói như nhà thơ Hữu Thỉnh:“Không có sách chúng tôi làm ra sáchChúng tôi làm thơ ghi lại cuộc đời”      Thơ là hình thức văn học đầu tiên của nhân loại, có cội nguồn từ hoạt động tế lễ, ma thuật thời nguyên thủy, gắn liền với nhảy múa âm nhạc và hội họa. Vậy có nghĩa là trong thơ ban đầu đã có nhạc. Tính nhạc trong thơ là một hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh chóng này tương tự như hiệu ứng của việc xem phim và nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn, hay trong ngôn ngữ, giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc.
    Tính nhạc trong thơ là một cách để làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh chóng này tương tự như hiệu ứng của việc xem phim và nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn, hay trong ngôn ngữ, giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc. Chính sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi các từ có âm thanh hay, xác thực với tình cảm người viết muốn truyền đạt, đồng thời tìm tòi những từ mới. Tính âm nhạc còn thể hiện trong việc sử dụng các từ láy diễn tả âm thanh như “rì rào”, “vi vu”, “ầm ầm”, “lanh canh”, “ào ào”, “ồn ã”. v.v... Có lẽ vì thế việc làm thơ nhiều khi tương tự như việc làm toán, hoặc việc bài binh bố trận trong quân sự, mà bài toán hay kẻ thù phải chinh phục chính là cảm xúc của họ, và câu chữ hoặc từ là phép toán hay lực lượng quân đội mà họ có. Người làm thơ phải nhanh chóng tìm ra phương pháp biểu tả tình cảm của mình dưới một hình thức cô đọng, hợp lý, với một số lượng từ rất nhỏ. Để lùng tìm những câu, chữ, từ, nghĩa nhanh chóng, người làm thơ thường phải kinh qua một quá trình luyện tập lâu dài, bằng cách đọc sách, học cách biểu tả tình cảm của mình bằng những câu chữ ngắn gọn, đồng thời có cảm quan nhạy bén với ngữ nghĩa của từ được dùng. Thơ còn đòi hỏi tính phân tích các từ nghép và cô đọng từ. Chính vì thế, nhiều khi do làm thơ, người làm thơ dễ rơi vào tình trạng liên tưởng giữa từ của nghĩa này sang từ của nghĩa khác. Khi được dùng trong thơ, người ta còn gọi là sự "chơi chữ".
    Thơ chống Mỹ đánh dấu sự xuất hiện và bước trưởng thành mới của một thế hệ các nhà thơ mới. Chính trong cuộc chiến ác liệt ấy chúng ta lại có thêm những con người tài ba, những thi phẩm theo cùng năm tháng.Ngoài hiện thực ngồn ngộn trong từng câu chữ, ngoài những triết luận đời sống và những hình ảnh biểu tượng…trong thơ chống Mỹ. Vấn đề mà tôi muốn nói đến đó là một vấn đề liên quan đến mảng nghệ thuật thơ:đó là “tính nhạc trong thơ chống Mỹ”. Không có thời kì nào mà số lượng thơ lại nhiều như thời kháng chiến và không có giai đoạn nào thơ ca được phổ nhạc nhiều như thơ chống Mỹ. Ắt hẳn chúng ta đều rất quen thuộc với những nhạc phẩm như:Vàm Cỏ Đông” (thơ Hoài Vũ, nhạc Trương Quang Lục), “Ngọn đèn đứng gác” (thơ Chính Hữu, nhạc Hoàng Hiệp), “Đường ra mặt trận (thơ Chính Hữu, nhạc Huy Du), “Tháng ba Tây Nguyên” (thơ Thân Như Thơ, nhạc Văn Thắng), Bước chân trên dải Trường ơn (thơ Nguyễn Đăng Thục - Tào Mạt, nhạc Vũ Trọng Hối), “Lá đỏ” (thơ Nguyễn Đình Thi, nhạc Hoàng Hiệp ), “Bóng cây kơ-nia” (thơ Ngọc Anh, nhạc Phan Huỳnh Điểu), “Hạt gạo làng ta” (thơ Trần Đăng Khoa, nhạc Trần Viết Bính), “Em bé Bảo Ninh” (thơ Nguyễn Văn Dinh, nhạc Trần Hữu Pháp”, “Cô gái vót chông” (thơ Môlôyclavi, nhạc Hoàng Hiệp), “Cùng anh tiến quân trên đường dài” (thơ Xuân Sách, nhạc Huy Du), “Đất quê ta mênh mông” (thơ Dương Hương Ly, nhạc Hoàng Hiệp), “Đêm hành quân nhớ Bác” (thơ Nguyễn Trung Thu, nhạc Huy Du), “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” (thơ Phạm Tiến Duật, nhạc Hoàng Hiệp)…
     Nhưng vấn đề của chúng ta không phải đi chứng minh trong thơ có nhạc, bởi lẽ điều hiển nhiên này ai cũng biết. Có điều tùy vào sự khéo léo của các nhà thơ nhạc tính được đưa vào nhiều hay ít. Người Việt ưa tình, thích làm thơ nên dễ cảm nhận. Sự diệu kì là chỉ có 7 nốt : đồ, rê, mi…mà làm nên muôn vàn bản nhạc. Tính nhạc trong thơ được tạo bởi nhiều yếu tố nhưng hàng đầu vẫn là thanh điệu, việc sử dụng thể thơ tự do với những dụng ý nghệ thuật cũng góp phần không nhỏ trong việc hòa tấu những bản nhạc. Cái chúng ta cần tìm bây giờ chính là tên gọi của những bản nhạc ấy và giải thích vì sao các thi nhân lại tạo ra những bản nhạc đó trong thi phẩm của mình?1.Thơ chống Mỹ_bản anh hùng ca một thời để nhớ       Đây là âm hưởng đầu tiên, âm vang của thời đại và là âm điệu chủ đạo và rộn ràng nhất trong mảng thơ kháng chiến chống Mỹ. Âm điệu này không chỉ có riêng trong thơ chống Mỹ mà chúng ta đã gặp từ trong những sáng tác trước đó.Điều đáng kể đó là tiếu tấu nhanh, dứt khoát, với việc sử dụng nhiều thanh trắc mang lại hiệu ứng âm thanh mới mẻ cho thơ chống Mỹ. Âm hưởng ấy xuất phát từ sức trẻ. Những người thanh niên ra đi khi đó hơn một nửa là trí thức, họ là các văn nghệ sĩ, những sinh viên vẫn còn ấp ủ những “tiếng ve màu đỏ/Cháy trong vòm cây”. Rời ghế nhà trường họ ra đi với bản hùng ca:
“Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn  Hai đứa ở hai đầu xa thẳm  Ðường ra trận mùa này đẹp lắm  Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây” (Trường Sơn đông, Trường Sơn tây_Phạm Tiến Duật)      Họ hòa nhập vào không khí chiến trường, ra đi với những khát khao của tuổi trẻ. Có lẽ, chính cái không khí thời đại ấy đã tạo nên những con người sôi nổi đến vậy. Họ đi đánh trận mà rừng Trường Sơn đẹp như ngày hội.Trong con mắt của những người lính trẻ, chiến tranh là lý tưởng của họ. Các nhà thơ họ tư huy bằng hình ảnh, lấy thơ để biểu lộ hình ảnh và hình ảnh trở thành điểm tựa cho thơ. Bản anh hùng ca được tạo nên bởi những hình ảnh hùng vĩ, mang đậm chất sử thi. Đó là hình ảnh tiểu đội xe vận tải Trường Sơn với đặc điểm “không kính”“Ung dung buồng lái ta ngồiNhìn đất,nhìn trời,nhìn thẳngNhìn thấy gió vào xoa mắt đắngThấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa như ùa vào buồng lái…” (Tiểu đội xe không kính_Phạm Tiến Duật)Nhịp thơ ngắn 2/2/2, 3/1/3,3/1/2/2....dồn nén cảm xúc, tạo nên những cao trào cho bản hành khúc. Và những anh lính xe tăng hồn nhiên, tinh nghịch nhưng khi chiến đấu thì tinh thần cao độ, gắn kết:“Năm anh em trên một chiếc xe tăngNhư năm bông hoa nở cùng một cộiNhư năm ngón tay trên một bàn tayĐã ra trận thì năm người như một”  (Năm anh em trên một chiếc xe tăng_Hữu Thỉnh) Một Trường Sơn ngập tràn lá đỏ hay ngập tràn tình yêu?“Gặp em trên cao lộng gióRừng Trường Sơn ào ào lá đỏ” (Lá đỏ_Nguyễn Đình Thi)
đó cũng là hình ảnh Trường Sơn hùng vĩ được ví như bóng hình của Bác:“Đường Trường Sơn mang bóng hình của BácĐường Trường Sơn chúng cháu dồn chân bướcCon đường của Bác đã đi qua…” (Đêm Trường Sơn nhớ Bác_Nguyễn Trung Thu)
sự hoành tráng, hùng vĩ của hình ảnh cũng góp phần tạo nên những dư âm mãnh liệt cho cuộc hành quân. Âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh, được tiếp nhận theo thời gian và cũng trôi đi theo thời gian. Không tinh nhạy như thị giác, nhưng qua âm thanh của nhạc, hình ảnh, hình tượng muôn màu cuộc sống hiện lên trong tâm hồn con người, gợi lên những giá trị thẩm mỹ.  Cùng là tiếng nói của tình cảm, phản ánh những cung bậc cảm xúc của con người, âm nhạc tìm đến thơ như tìm đến người bạn tri âm, cùng phương thức thể hiện. Ca từ của ca khúc phải nhờ có sức gợi mở, lay thức thế giới nội tâm. Theo như GS. Dương Viết Á thì tiết nhịp của thơ có ảnh hưởng đến trọng âm. Đó là cách ngắt nhịp dồn ở thanh điệu tiếng cuối trong câu thơ. Ca khúc “Hành khúc ngày và đêm” (Phan Huỳnh Điểu) phổ từ bài thơ Ngày và đêm (Bùi Công Minh) đã tôn trọng quy luật trọng âm ấy, khi đọc thơ cũng như khi hát: Anh đang mùa hành quân/ Pháo lăn dài/ chiến dịch/
Bồihồi/ đêm xuất kích/ Chờ nghe tiếng/ pháo ran/ Ngôi sao như mắt em/
Trong những đêm/ không ngủ/
Giáo án/ em vẫn mở/
Cho ánh sao/ bay vào/.    Những ca khúc phổ nhạc thơ chống Mỹ mang hình tượng đẹp, vừa hùng tráng, vừa tha thiết, trữ tình. Đó là hình tượng Tổ quốc, nhân dân mang âm hưởng hùng ca, tầm vóc, kích thước sử thi hoành tráng (Đường chúng ta đi, Ta tự hào đi lên, ôi Việt Nam, Dáng đứng Việt Nam, Anh vẫn hành quân, Bước chân trên dải Trường Sơn…)2. Thơ chống Mỹ_bản nhạc trầm, buồn, tha thiết.       Nếu coi mảng thơ ca chống Mỹ như một bản giao hưởng và các khúc nhạc là những phân đoạn của bản giao hưởng thì có lẽ nên xếp khúc nhạc này vào giữa bởi nó hợp với tiết tấu chậm, da diết ở phần giữa bản giao hưởng. Chiến tranh với chúng ta là nhiệm vụ của cả dân tộc, nhưng nhiệm vụ ấy hầu như được trao cho những người thanh niên đầy nhiệt huyết. Những người lính, bên cạnh những lúc vui đùa, tinh nghịch, hào sảng kháng chiến, họ còn có những khoảng lặng tâm hồn riêng nói về những tâm sự, những niềm thương trong thời kháng chiến. Chính cái nhìn đa chiều, con mắt sâu sắc đã làm nên những vần thơ đẫm phong cách nhạc trữ tình.Khi nhẹ nhàng, đầm ấm:  “Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửaCái mộc mạc lên hương của lúaĐâu dễ chia cho tất cả mọi người” (Hơi ấm ổ rơm_Nguyễn Duy)
Khi gợi nhắc, biết ơn:“Chú qua bao suối bao đèoĐến nay chắc đã thêm nhiều chiến côngNgoài này cháu đứng cháu trôngNhững đêm nổ sung lửa hồng chân mây” (Gửi các chú_Trần Đăng Khoa)Lúc lại như một lời dãi bày nghẹn ngào, u uất…Tôi 17 tuổi đầu xung phong đi vệ quốc
Ông cụ lết ra đường, sờ soạn tiễn con điTôi biết tin con sinh trong lúc vợ ngồi tùBà cụ mong tôi 18 năm trờiPhút gặp mặt mẹ không còn thấy nữa..” (Chuyện một đồng chí chính ủy_Bằng Việt)      Sự giao hòa của nhạc âm cũng bắt đầu từ sự gặp gỡ của nhạc cảm.Thơ còn mang đến nhạc điệu chủ đạo cho âm nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc chỉ lấy ý tứ từ hai câu thơ “Tiếng đàn bầu” của Lữ Giang “Cung thanh là tiếng mẹ/ Cung trầm là giọng cha” mà làm nên giai điệu da diết của bài hát cùng tên. Trường hợp, nhạc sĩ Nguyễn Chí Vũ thay đổi trật tự kết cấu thơ của “Dáng đứng Việt Nam” (thơ Lê Anh Xuân) không làm mất linh hồn của bài thơ, bởi người nhạc sĩ trước hết đã nắm được cái thần của bài thơ và cùng chung cảm xúc với thi sĩ. Âm điệu này không ở riêng một bài thơ nào. Trường hợp ca khúc Đường chúng ta đi -đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc vẫn vang lên hào hùng nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước “Việt Nam! trên đường chúng ta đi/ Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó/ Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời/ Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước/ mà vui sao ta chẳng nói nên lời...” là lấy thơ Xuân Sách và Hoàng Trung Thông. Chiến tranh được nhìn trên nhiều khía cạnh, đó không chỉ là lúc tinh thần yêu nước tự hào dân tộc kết thành song mà đó còn là những mất mát, hi sinh về con người. Khúc nhạc này tuy buồn nhưng không hề bi lụy, nó làm cho người nghe tự hào hơn về hòa bình của ngày hôm nay.3. Thơ chống Mỹ_bản tình ca trong sáng của tuổi trẻ và tình yêu.    Bên cạnh bản anh hùng ca với tiết tấu nhanh, hào hùng, chúng ta còn bắt gặp những bản tình ca ngọt ngào, đầy dư vị của tuổi trẻ và tình yêu. Sự rung động, xốn xang của con tim cũng mang đến cho thơ tiếng nhạc. Nhưng tiếng nhạc ở đây không lạc điệu, rơi vào những khoảng không của cái tôi như Thơ Mới mà nó cũng hòa chung âm điệu tráng ca của thời đại. Chiến tranh làm tình yêu xa cách, nhưng sự chia li không làm người ta bi lụy, chia li làm cho con người thêm gắn bó.
“Cửa sổ hai nhà cuối phốChẳng hiểu vì sao không khép bao giờĐôi bạn ngày xưa học chung một lớpCây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưaGiấu một chùm hoa trong chiếc khăn tayCô bé ngập ngừng sang nhà hàng xómBên ấy có người ngày mai ra trậnBên ấy có người ngày mai đi xa…” (Hương thầm_Phan Thị Thanh Nhàn) Tâm tình này đâu phải của riêng mình cô gái mà có lẽ phải là của nhiều cô gái. Và nếu không có sự gặp gỡ của thơ và nhạc thì tâm tình này chắc không được sẻ chia nhiều đến thế.  Cảm hứng được gợi lên từ những hình ảnh nhỏ bé, khi chỉ là một bóng cây nhưng tình yêu lớn đã làm cho hình ảnh thêm hùng vĩ:“Trời sáng em lên rẫyThấy bóng cây Kơ niaBóng ngả che ngực emVề nhớ anh, không ngủ…”(Bóng cây Konia_Anh Ngọc)   Thơ là nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn quảng đại và đa cảm. Tính nhạc được tạo nên bởi những âm hưởng gắn liền với hình ảnh, cảm xúc do sử dụng phối hợp âm thanh, nhịp điệu, từ ngữ... phù hợp với nội dung tư tưởng, tình cảm được biểu đạt.  Mang đặc điểm đơn âm, độ dài âm tiết ngắn, tách rời, tiếng Việt có ưu thế tính nhạc so với các thứ tiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít hơn và không thanh điệu. Một âm tiết tiếng Việt bao giờ cũng được biểu thị bằng một nốt nhạc, hoặc vài nốt nhạc luyến láy, làm cho ca từ “tròn vành rõ chữ” khi nhạc sĩ đặt lời.Thơ vừa ra đời đã tạo cảm hứng cho âm nhạc cùng chung nhiệm vụ “tiếng hát át tiếng bom”. Thơ làm nền cho nhạc, nhạc cất cánh cho thơ. Sự gặp gỡ giữa thơ và nhạc là sự cộng hưởng của tình yêu. Những ca khúc ra đời trở thành tiếng nói đồng điệu của hàng triệu con tim nhiều thế hệ. Thơ đã làm sống dậy những ca khúc ở chính thời điểm ấy, và ngay đến tận sau này. Với thơ của Hoàng Nhuận Cầm thì luôn tiềm ẩn một sóng nhạc uyển chuyển trong những vần thơ nhập trận:Chiếc nhạc trên cổ la rung rung/ Đã sáu năm là bài hát của rừng/ Có những con đường hoang dại lắm (Anh bộ đội và tiếng nhạc la), trong tình yêu: Tình yêu đến trong đời không báo động/ Trái tim anh chưa lỗi hẹn bao giờ/ Viên xúc xắc mùa thu ru trong cỏ (Xúc xắc mùa thu).
  Còn thi sĩ Xuân Quỳnh gửi giai điệu tha thiết, nồng thắm ấy vào hình ảnh con sóng:“Con sóng dưới lòng sâuCon sóng trên mặt nướcÔi con sóng nhớ bờNgày đêm không ngủ đượcLòng em nhớ đến anhCả trong mơ còn thức”Thơ vươn tới sự lạc quan, dường như sự khốc liệt giữa chiến trường không làm vướng bận âm thanh sự sống:Thản nhiên con gió chạy qua/Tiếng chim lách chách gần xa chuyện gì/hoặcMũ tai bèo khẽ nghiêng nghiêng/Nghe lăn lăn những tiếng chim xuống hầm...   Sự sống vẫn tồn tại, tình yêu vẫn nảy nở dù cho hoàn cảnh thực tế là thế nào. Chiến tranh mang lại không ít những đớn đau nhưng con người không vì những đau đớn ấy mà gục ngã. Những người chiến sĩ ấy vẫn hồn nhiên, tinh nghịch, yêu đời…“ Người tinh nghịch là anh dễ thânBởi vì thế có em đứng gầnEm ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là Thạch NhọnĐêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đónEm đóng cọc rào quanh hố bom…” (Phạm Tiến Duật)  Cách dùng khẩu ngữ và việc sử dụng những câu thơ văn xuôi làm chất liệu đã gắn kết hơn thi ca và cuộc sống. Có ai đó nói rằng thơ là nhạc điệu của tâm hồn. Tâm hồn cũng có những cung bậc như âm nhạc. Tiếng nói trong thơ là tiếng nói đầy âm nhạc, tiếng nói có nhịp điệu - nhịp điệu của những âm thanh vật chất, của tiếng nói thực tế ḥ̣òa với nhịp điệu cảm xúc bên trong tâm hồn nhà thơ. Thơ là nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn quảng đại và đa cảm. Với sự nhạy cảm với thời cuộc, các nghệ sĩ bằng tai năng của mình ghi lại hiện thực bằng những chất liệu khác nhau, song cái thần chung lại tương đối giống. Sống trong thời đại ấy, họ cũng có cái được bên cạnh nhiều mất mát. Được đó là được sống, được trải nghiệm và được chiêm nghiệm. Bản chất thơ ban đầu đã có nhạc, nhưng tiếng nhạc vang dội nhất phải kể đến thơ thời chống Mỹ với ba khúc tiêu biểu hợp thành một bản giao hưởng thu hút người nghe ngay từ những nốt đầu tiên.
     Âm nhạc được tạo nên chỉ bằng 7 nốt cơ bản và cách cảm của mỗi người về từng bản nhạc lại khác nhau mang đến những đời sống riêng cho nó. Thơ chống Mỹ rất giàu nhạc tính. Nhạc tính đi vào thơ từ không khí thời đại sục sôi, từ những rung động với cảnh đau thương mất mát và từ cảm nhận tình yêu của tuổi trẻ…Điều đó đã hợp thành một bản giao hưởng với đầy đủ 3 đoạn tiết tấu (nhanh_chậm_nhanh). Âm nhạc tạo nên sức sống cho thi ca. Dù chúng ta không thể nhớ hết cả bài thơ ấy nhưng khi đọc nhạc điệu bài thơ đã ghi nhanh và trí nhớ. Sự giàu có nhạc âm trong thơ chống Mỹ đã khơi gợi nhiều sáng tạo cho các nhạc sĩ. Thơ chống Mỹ được phổ nhạc nhiều nhất chắc cũng vì lẽ đó và điều này đã biến những bài thơ trở thành những bài ca đi cùng năm tháng.

30 thg 1, 2014

Thơ Xuân Giáp Ngọ

Năm nay xuân Giáp Ngọ
Chúc ông bà sống thọ cùng cháu, cùng con
Chúc em trẻ nhỏ lon ton vui đùa
Cụ Rùa sống tiếp năm nay
Để thấy đất nước đổi thay từng ngày
Thất nghiệp có việc đến tay
Làm ăn tấn tới, làm phát đẩy lùi
Hiên ngang mà tiến chớ lùi
Gia đình hòa thuận sống vui là mừng!

9 thg 1, 2014

Câu chuyện số 8: Mộc chống chế

Mộc mới hơn hai tuổi mà dẻo mỏ, chống chế rất tài. Mộc có những lí luận rất Mộc như sau.
Chị Yến Chim đi học về sang nhà mẫu giáo đón Mộc. Mộc thấy chị, mừng quýnh, chạy ra đòi bế.
- Mộc ơi, Mộc nặng lắm chị không bế được đâu.
Mộc véo von:
- Không Mộc không nặng đâu, Mộc chỉ.....to thôi.
Chị yến @@@@@@
+ Chị Yến chuẩn bị đi làm:
- Mộc ơi chị Yến đi làm đây.
Mộc tròn xoe mắt nhìn ra:
- Chị Yến đi làm nhé, đi làm lấy tiền mua sữa cho Mộc nhé.
Chị Yến: ặc!
+ Mộc rất hay nghịch nọ nghịch chai, thường lấy đồ của mọi người mang đi lung tung.
- Mẹ Mộc: Mộc....mang sạc pin về đây cho mẹ
- Mộc: Mộc để trong phòng anh Nhọ đấy, mẹ đi mà tìm. há há
+ Mộc tan học, chạy về
- chị Yến: Mộc, không chào mẹ Thúy à (cô giáo Mộc)
- Mộc: Rồi! Chào mẹ Thúy nhé, về thôi

4 thg 1, 2014

Câu chuyện số 7: Mộc nói chuyện điện thoại

 Mộc và bố Mộc về quê, mình mẹ Mộc ở trên này với các chị, thành ra chẳng có ai trêu. Tối đến là mẹ Mộc gọi điện cho Mộc, trêu Mộc.
Mẹ Mộc: Mộc ơi mẹ Nhung gì?
Mộc: Mẹ Nhung xinh.
Mẹ : Thế bố gì?
Mộc : Bố hâm hấp
Mẹ Mộc cười ha hả vì thằng con nịnh nọt.
Bố Mộc tức giận tắt máy.
Bố: Thế sao Mộc lại bảo mẹ xinh còn bố hấp.
Mộc: nói thế cho mẹ đỡ đánh bố...
Mẹ Mộc gọi lại
Mẹ: Mộc ơi
Mộc: (thở dài) Mẹ buồn cười nhỉ, Mộc đang xem phim....rồi rồi...thôi nhé
Mẹ Mộc cảm thấy rất phũ, lại như cũ ra ngoài cửa đếm xe....

2 thg 1, 2014

Câu chuyện số 6: Buổi tối chủ nhật

Câu chuyện này xảy ra cách đây 1 năm trước, hồi có "The Voice" đợt 1. Nhà Mộc rất thích chương trình này. Đặc biệt là hai chị Yến. Mẹ Mộc thỉnh thoảng cũng ké, cơ bản là thích nghe hay chị bình luận.
Trong những người tham gia, gây sóng gió nhất cho nhà Mộc là anh ca sĩ Bùi Anh Tuấn, vừa điển trai lại hát rất hay.
Hôm đó, hình như là anh chàng hát bài Hoang mang thì phải. Nghe phê phết. Hai TV mở hết loa. Nghe xong, chị Yến suýt xoa
-hát thế mới là hát chứ
Chị Mýt gật gù
- Nói chung là cũng được
Mẹ Mộc hỏi bố Mộc
- anh thấy hát được chứ
Bố Mộc: Đương nhiên, thằng này giống tên anh nên hát hay là đúng rồi.
Mộc chơi quanh đó, quay ra: Thế hở?
Cả nhà bò ra cười vì vẻ ngây ngô vô số tội của Mộc.

31 thg 12, 2013

Buổi chiều cuối năm

 Thay vì ra đường lượn lờ, ngồi trong chăn và đảo điên suy nghĩ, hy vọng sẽ tìm ra được hướng giải quyết vài ba vấn đề. Hướng đó chính là ngồi ôm máy và viết bờ lóc. Nhìn lại một năm qua có gì đáng nhớ, để tự đánh vào mông kiểm điểm.
 Chiều cuối năm
Nắng hanh vàng góc phố
Con ngõ nhỏ nhao nhác lũ trẻ tan trường

 Một năm qua nhìn lại
Thấy vẫn còn dại ngây
Người ta sâu sắc mấy
Mình còn nông nổi nhiều

Một năm qua thấy lại
Cũng làm được vài điều
Học hành chưa quá tệ
Được đi nhiều biết thêm

Một năm trôi thật lẹ
Sức khỏe một yếu đi
Năm nay ốm nhiều quá
Mẹ lại phiền nghĩ suy

Một năm nữa mừng tuổi
Lớn được nhiều cũng hay
Nhưng bắt đầu thấy gay
Người yêu chưa thấy bóng.

Một năm làm cật lực
Tài chính vẫn chửa lên
Dự định dành chút ít
Tài khoản còn im lìm

Một năm trôi buồn tẻ
Trừ mỗi lúc nghỉ hè
Chắc năm sau sửa xe
Vận hên mới ùa đến

Nghe chuyện năm qua hơi sến
Thôi chờ năm mới sắp cho
Những buồn lo của năm cũ
Tạm gác bên, hẹn ước năm mới về.





Viết bờ-lóc

Cậu ta đang ngồi trước máy tính, lạch cạch, suy tư và chăm chú:
- Đang làm gì đấy?
- Ối giời làm hết hồn! Em đang viết bờ-lóc
- Blog cái đầu! học thì dốt, nói còn không ra câu với cú còn bày đặt viết bờ với chả lóc...
- Ấy chị! Giáo viên gì bậy thế! Viết chem chém cho vui.
- Thế viết cái gì?
- Em đá đểu mấy thằng mấy con mà em không ưa cho vui.
-Quân tử gớm!
- Giời này còn thế qoéo nào quân tử...cơ mà người lịch sự đá nhau cũng phải lịch sự và thâm thúy chứ!
- Kinh! cũng học được mấy từ nghe văn vẻ. Cơ mà thôi đi nói thì hay nhưng chắc gì đã hiểu "thâm thúy". Mà bộ tưởng ai cũng ngu không nhận ra mày đang móc khóe ai sao?
Dẹp ngay!
- Rồi! đánh hoài...đúng là đã lùn lại mắm
-Giề?
- Dạ không!

20 thg 12, 2013

Câu chuyện về nghề giáo

   Tôi là sinh viên sư phạm và mấy tháng nữa thôi, sau khi hoàn thành xong cái luận văn tốt nghiệp tôi sẽ chính thức trở thành nhà giáo. Sẽ và sắp được lũ trẻ gọi là cô, có những đồng nghiệp và được xã hội gọi là "thầy", rồi được người ta vinh danh là "nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý". Có hẳn một ngày kỉ niệm riêng, nhận hoa, nhận quà và lời chúc. Từng ấy thôi cũng đủ để hãnh diện với bản thân, đủ để thấy nỗ lực mình bỏ ra theo đuổi nhiều năm liền chẳng hề hoài phí. Ấy vậy mà từ lâu những cái thứ đó vừa là vinh quang mà cũng vừa nỗi đắng cay của những người thầy.
    Tôi không biết tôi có làm được một người thầy tốt không? nhưng có một điều chắc chắn là tôi sẽ đi đến cùng với nó. Mặc dù có những lúc tôi chán ghét, cảm thấy mình bị sỉ nhục khi chọn cái nghề này. Nhân nói về chọn nghề, lại nhớ. Chẳng hiểu thế nào tôi lại đam mê cái nghề này đến vậy. Vì mẹ tôi là cô giáo chăng? Vì thầy giáo tôi dạy trên bục giảng rất hay chăng? Vì nhiều cái lợi mà xã hội dành tặng ngành giáo chăng?????       Lần đầu tiên tôi thất bại. Vẫn quyết tâm quay trở lại dù học ở trường mới tôi cũng có nhiều cơ hội. Nhưng tôi quay lại để nuôi tiếp ước mơ đứng trên bục giảng, để nhìn mấy đứa học trò mắt to đáng iu. Và để tìm lại khoảng thời gian tôi đã đánh mất. Có một số chuyện thời đi học đáng lẽ không xáy ra thì có lẽ tôi cũng như người khác, có một thời để nhớ, để yêu. Nhưng điều đó cũng không ảnh hưởng lắm đến tôi, chẳng qua là nhiều khi gặp lại người cũ, những kí ức không mấy tốt đẹp lại về...giá như đừng gặp...tự nhiên có ý muốn đi xa.... Cô giáo tôi nói "có phải vì muốn lấy chồng giàu em mới theo nghề giáo?",thầy giáo tôi bảo " chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm", một cô giáo khác lại nói "em nên đổi nghề đi, xin làm sao được việc...", bạn tôi nghĩ " học như nó chỉ có vào được sư phạm thôi, những trường khác điểm cao chót vót sao vào được?" và đến một ngày bạn quát vào mặt tôi " hãy mang cái thứ ấy lên bục giảng của cậu, tôi muốn nói thế nào mặc tôi..."???? Từng ấy sự bẽ bàng nhưng tôi vẫn chọn nghề giáo.
   Dẫu biết, giờ thì người ta cho rằng chúng ta "tự sướng", tự phong nói mình là cao quí. Chúng ta dùng chỉ tiêu, dùng điểm số để chèn ép học sinh. Người ta cho rằng, ngày ngày chúng ta đến lớp với mớ kiến thức cũ kĩ xào đi, xáo lại và cuối cùng chẳng để làm gì cho đời. Rồi đến những ngày lễ tết, học sinh, phụ huynh đến với chúng ta mà lòng lo lắng không biết món quà có hợp ý cô hay không? hẳn sẽ giật mình nếu như nhà chúng ta bày biện khang trang, đặt nhiều gói quà...rồi học sinh sẽ gọi chúng ta là "bà này, bà nọ". Mặc dù, chúng ta còn kém xa tuổi mẹ chúng. Học sinh sẽ rỉ tay nhau. Học cô này cho điểm cao, học thầy này khắt khe lắm...và mỗi lần đến kì thi, học sinh tấp nập đến nhà thầy ôn, sinh viên chụm nhóm đến nhà thầy nói chuyện. Mỗi lần con em học trường Tài Chính nói em lại đi hối lộ đây mà mình cảm thấy như nó đang cười nhạo mình. Đắng quá! Còn gì nữa nhỉ? À mình phải xăm xắn đến trường, đon đả chào hỏi, qua lại chỗ này chỗ kia với các đồng nghiệp, đi thì nhìn dáng, nói nhìn nét mặt, ngồi phải chọn chỗ...Kể mà liệt kê thì có đến mấy trang giấy.
   Mấy ngày cuối cùng thời sinh viên, khao khát đến lớp. Thầy giáo vẫn chỉ có bộ quần áo như vậy, thầy đi xe buýt, gặp học sinh lúc nào thầy cũng tươi cười...cô giáo lúc nào cũng nhỏ nhẹ, trên lớp chứ ra ngoài là khác tay học trò cùng bước lên giảng đường, 5 tiết, cô mệt nhoài mà trò còn nài cô lại giảng thêm, cô vừa giảng vừa thở...trò ốm, cô hỏi thăm, cô nắm tay xem hết sốt chưa? thầy hay đùa sao ăn mãi chẳng nhớn vậy?...tất cả mọi thứ ở đây sao thân thương đến vậy. Sau tất cả sự lựa chọn, nơi đây có lẽ là sự lựa chọn đúng đắn nhất của tôi. Dù cho chọn lại tôi vẫn chọn nơi này. Được học với những người bạn chân thành, thầy cô tôi nhiệt tình và giản dị...dù hơi muộn nhưng vẫn cảm thấy rất bình yên khi ở nơi đây.

    Thế nhưng, cái danh xưng "thầy" giờ đây dường như quá là bừa bãi. Người ta vin vào cái câu " một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy"; ai cũng có thể thành thầy, cũng có thể đứng trên bục giảng, cũng có thể được gọi là cô, là thầy....chúng ta đã quá dễ dãi, quá nhân nhượng cho những sai sót nhỏ và rồi chính chúng ta làm vấy bẩn cái danh xưng mà xã hội đã dành tặng cho những người thầy. Những con người không bằng cấp, không được đào tạo tử tế, chẳng biết bằng cách nào đó người ta chen được chân vào trường học, những người vốn không đủ phẩm chất nhưng vẫn được chấp nhận là thầy, những người là thầy mà không giữ nổi mình vẫn làm thầy...chỉ chừng đó thôi, cái xã hội kia, người ta đang chửi rủa chúng ta, đang bài xích chúng ta. Giáo viên mắng học sinh, học sinh lập tức ghi âm và cho lên mạng, giáo viên chấm sót ý, phụ huynh gọi báo chí đến làm việc...Từ chỗ người ta sợ đến chỗ người ta khinh, người ta còn quí trọng người thầy? Hẳn mỗi bên đều có lỗi. 
    Lẽ thường "tiếng xấu đồn xa", vết nhơ đó hẳn sẽ chẳng xóa được. Nhớ ngày trước, những bộ quần áo cũ của tôi, mẹ thường cất giữ cẩn thận. Mẹ bảo cho học sinh mẹ mặc, chúng nó chỉ có một bộ quần áo...chuyện kể chị tôi lên tận vùng núi xa xôi nước không có mà dùng mà ngày nào cũng lặn lội vào bản động viên học sinh đến lớp...thầy tôi đã già mà ngày nào cũng mấy cuốn sách, nghiên cứu và giảng giải, ông tôi lúc nào cũng ủng hộ cháu hết mình, nếu có thể thì hãy đi đến nơi nào cần giáo viên nhất, bà tôi nhìn âu yếm: nhỏ thế làm cô giáo tốt nhé...Tối đi dạy thêm, học trò một tiếng cô, hai tiếng cô nghe mà thấy thích...Chừng này chắc không đủ sức đề kháng mà chống lại bụi bẩn ngoài đường, nhưng sẽ cố gắng. Trong khi người ta nghếch mũi lên khịt khịt như loài chuột, dùng mắt chim điêu mà săm soi xét nét...ta cứ sống, cứ ương bướng như loài ngựa, chỉ đi thẳng.
Và tôi cũng chẳng cần anh. Một người tôi đã từng gửi rất nhiều vào đó những giấc mơ, những yêu thương, sự quan tâm, người đã làm cho tôi biết thế nào là đau khổ, thế nào là nhớ mong...đúng là tôi mắc bệnh lầm tưởng. Nhưng tôi không cần sự thương hại của anh. Anh cũng đừng áy náy về tôi. Tôi vẫn sống tốt, hoàn thành tốt cái vai diễn mà tôi được ông trời phân công. Dù ai nói gì, gì anh có khinh bỉ cái nghề này. Đối với tôi điều đó không còn quan trọng nữa. Cái tôi cần, không phải là một người yêu để nũng nịu, dựa dẫm. Hơn hết tôi cần một tri âm trong cuộc đời này. Mà tri âm của tôi chính là cái nghề này. Tôi yêu nó mất rồi!

Câu chuyện về ngôn ngữ và người học Văn

Câu chuyện bắt đầu từ câu thơ (chẳng ai biết là ai làm, chẳng ai biết nhận định từ đâu), người ta tán tụng nhau như thế này:
"Người khoa văn nhân hậu lắm
Người yêu văn nhân hậu nhiều
Cha mẹ dặn con sau này lớn
Chọn người khoa ấy mà yêu"
   Nói không chừng, có thể là một lời nói ong bướm của ai đó phải lòng dân Văn (suy đoán mang tính cá nhân hết sức). Cơ mà từ khi có cái câu này cũng có nhiều cái lầm tưởng mang tên "xã hội". Người ta cho rằng dân Văn khéo léo. Khéo léo thì có. Nhiều người cũng có nhiều tài lẻ này nọ. Sống biết chừng mực, hòa thuận, lời nói thì nho nhã, dễ nghe. Tựu chung chỉ trừ những ai bộ máy phát âm không thanh cho lắm thì tiếng nghe rè rè, chứ từ trai đến gái khoa Văn đều nói năng nhỏ nhẹ, giọng thanh thoát, truyền cảm, êm tai.
   Nhưng giờ người ta ít nói đầy đủ là khéo léo mà chỉ nói từ khéo để người nghe muốn hiểu thế nào thì tùy. Khéo à? mồm miệng dẻo? chân tay dẻo? cung cách cũng dẻo? nhưng nhiều người lại biểu thị hơi lố (từ của ngôn ngữ tuổi teen bây giờ). Người xưa có câu "trăm vạ tại miệng". Trời vốn sinh cái dân học văn có cái miệng lanh lợi nhưng nhiều người lại biến nó thành "nanh nọc". Nói những điều không đáng nói, chõ vào những chỗ không đáng chõ. Thành ra, nghe cái giọng thì hay nhưng mà tiết lọc từng câu từng chữ xem tin nổi câu nào? không tin câu nào? tin vào ai? thấy sống khổ quá trời! cùng được gọi là con người , sao có lúc thấy cô đơn ghê gớm. Nói thực lòng người ta lại cứ nghĩ mình ẩn nọ ý kia. Người đối diện luôn có cảm giác phòng bị sẵn sàng. Nếu lỡ có gì động chạm là tá hỏa, hét ầm ĩ, thậm chí còn mang nhau ra mà trì chiết. Tựu chung là người ta cứ nghĩ, dân Văn nhà mình học nhiều chữ, lúc nào cũng mang chữ ra mà dọa người, nên người ta phòng cũng đúng. Thấy cũng hơi tủi phận. Dẫu rằng có vậy, nhưng một khi đã là bạn bè thì cũng không nên xem thường nhau như vậy.
  Lại nói đến chuyện dùng chữ, trích thơ. Chẳng qua là học nhiều, đọc nhiều nên thấy lời hay, lời đẹp mà nhớ. Nhớ rồi vận dụng vào câu, vào từ mình nói thường ngày, lâu rồi thành thói quen. Lâu lâu gặp bè bạn, ngồi tán chưa được mấy câu đã bị cho là ra oai lắm chữ. Lại khổ cái thân. Có miệng cũng không được nói những điều mình nghĩ mà cũng không thể nói theo cách của mình. Nghĩ lại khổ quá trời.  Đến trường, gặp những người như mình thì không sao. Về nhà, bất chợt nảy ra ý gì đó hay ho quanh đi, quẩn lại chẳng nói được với ai.Có nói cũng chẳng hiểu. Thành thử cứ thui chột dần. Con người đúng là khó tìm được tri âm. Nếu cả cuộc đời này không có được một người như vậy thì đúng là sống phí mất rồi. Ai đời bạn bè thắc mắc : tại sao cậu phải dùng từ đó? tại sao cậu phải nói như thế? tại sao lại dùng thuật ngữ đó cho một đứa học kinh tế???? đủ các câu tại sao này nọ??/ học xong, trở về chắc chả nói được với ai.
 Đôi lúc cũng chẳng biết phải làm sao. Cứ gặp ai nói sai là lại phải chữa. Cái đó không thể nói là vậy. Phải nói là thế này cơ. Chúng ta đã dùng sai bản chất từ rồi. À, sao lại đưa cô giáo một tay, phải đưa hai tay chứ. Con à, không được nói với ông bà như vậy. Em à, ăn cơm phải gắp mời ông, bà trước chứ...đủ thứ lễ nghĩa mà không thực hiện đúng thì không chịu được. Cho rằn bệnh nghề cũng đúng. Ở trường thầy cô cũng nói chuyện đó, câu chuyện mấy đứa chơi thân với nhau cũng nói những chủ đề đó. Chẳng nói gì về giá vàng hay ngoại tệ dao động mà lại bàn nhiều hơn về lối sống học đường, rồi lại trăn trở, làm thế nào cho học sinh tốt hơn.... Thế rồi, một ngày kia những câu như thế này sẽ làm bạn choáng.."Cậu mang cái đó về lớp của cậu mà nói, tôi không cần cậu dạy, tôi nói thế nào là việc của tôi, sai cũng là việc của tôi..." thấy mình đang dần dần làm mất đi những người bạn... Cơ mà tìm một người nói chuyện sao khó khăn vậy? Nhiều lúc thấy chữ nhiều mà bất lực...
 Đời có vô số người. Đồng loại nhiều vô kể mà lạc lõng, lẻ loi, cô đơn ghê gớm....

Câu chuyện số 5: Bố Mộc đi công tác

Bố Mộc đi công tác. Mộc đi học về, không thấy bố đâu. Mộc hỏi mẹ:
- Mẹ ơi, bố đi đâu rồi?
Mẹ Mộc đùa:
-Bố đi chơi với cô Thủy rồi, Mộc chẳng ở nhà giữ bố.
Mộc nhăn mặt:
-Không đ..âu..
- Thế Mộc gọi cho bố đi.
Mộc chạy lại bàn, nhấc điện thoại, bấm loạn xạ. Đầu dây bên kia một giọng phụ nữ trả lời. Mộc ngơ ngác;
- Ơ! gọi cho bố mà cô nào cứ nói đấy...
Mộc dập máy chạy ra mách mẹ:
- Mẹ ơi, bố đi với cô tổng đài rồi...bố hư thân
Mẹ Mộc......

Câu chuyện số 4 : Buổi tối nhà Mộc

Dạo này Mộc rất hiếu động. Tối đến thường chạy khắp phòng nọ phòng kia trêu hết người này người khác. Mục đích duy nhất của Mộc là trốn ngủ sớm. Mẹ Mộc  thường bắt Mộc đi ngủ sớm để còn xem chương trình của mình. Mộc chạy sang phòng chị Thảo (chị Mộc mới lên)
-Chị Thảo ơi, Mộc ngủ với chị Thảo nhé! Chị Thảo cho Mộc mượn điện thoại đi...Chị Thảo bật cho Mộc chơi đi...Chị Thảo cầm cho Mộc chém nhé...chị Thảo cầm nốt bình sữa cho Mộc đi...(vô cùng nhiều yêu sách)
Chị Thảo bực mình đuổi Mộc về. Mộc chạy sang phòng Yến. Mẹ Mộc gọi
_ Mộc , mọi người đi ngủ rồi, Mộc về đi, cho Yến học
_ Để Mộc xem Yến Mít có học không đã nhé.
Mộc hé cửa...
- À Yến Mít học rồi.
Mẹ Mộc lại cằn nhằn:
- Mộc về ngủ thôi, không mẹ đóng cửa phòng đấy
Mộc chẳng để ý đến mẹ.
- Thì Mộc ngủ cùng với anh Nhọ cơ...
Nói chung là cứ để Mộc chạy mệt thì tức khắc Mộc quay về phòng ngủ thôi.

     Hồi còn nhỏ, ông nội đi đâu cũng cho tôi đi theo. Ông thích thăm quan những di tích lịch sử, những danh lam thắng cảnh hùng vĩ có gắn v...