Mỗi cuộc đời là mỗi chuyến đi. Với chuột là hành trình trên mặt đất. Với chim là hành trình trên bầu trời. (hãy nói theo cách của bạn, còn tôi sẽ làm theo trái tim tôi)
29 thg 8, 2013
Người ta nói, phàm những sự vật đối lập nhau nhưng lại luôn gắn liền với nhau. Giống như trong hạnh phúc có khổ đau. Trong may mắn có mất mát. Trong gặp gỡ có chia li.....trong đen có trắng. Trong sự tinh khiết, ngây ngô có cả những mưu mô, toan tính...Rất muốn viết về những điều gì đó tốt đẹp. Một thứ mà người đọc khi đọc lên thì cảm thấy yêu bản thân mình và yêu thế giới. Để cho những người mới bước vào đời có thêm sự lạc quan...Thế nhưng chẳng thể làm cách nào thanh lọc được suy nghĩ, hướng nó theo cái cách tích cực là ca ngợi cuộc đời, ca ngợi con người.
Con người đâu có vĩ đại đến mức được ca ngợi. Cuộc sống đâu có hoàn hảo và đầy sắc màu đến mức được ca ngợi. Bạn biết trong những khuôn mặt kia, ẩn sau những lời nói bắt tai là những điều khó lường với bạn. Nhưng bạn vẫn phải cười, phải nói, phải nhìn ngắm người ta. Chúng ta chẳng thế làm gì ngoài việc nhận định đó là cuộc đời_phù phiếm, tẻ nhạt. Trong rất nhiều những nốt xanh hiển thị trên face chẳng mấy ai có thể nói chuyện. Người ta chọn cách nói với tất cả, đó là chia sẻ trạng thái. Và nhiều người like, người ta like nhưng ít ai cmt hỏi thăm bạn. Xung quanh bạn có biết bao nhiêu là người, nhưng bạn vẫn là người cô đơn.
Cô đơn một buổi đi về
Gió thu lướt nhẹ giọt buồn trên môi
Cô đơn một của tôi thôi
Nắng ơi rót nhẹ cho tôi hạt sầu
24 thg 8, 2013
Pha tạp.....
Cafe pha nước nóng
Lắng dọng cặn, chảy giọt đắng
Cafe đen không bắt măt
Nhưng thơm nồng
Chút đường thơm
Ngọt và đắng hòa làm một......
Người nói có Tín mới có Yêu
Có cả rừng Điều mới chiều được em
Yêu em anh chẳng dám thèm
Một ly Giọt Đắng
Một Dòng Thời Gian....
Lắng dọng cặn, chảy giọt đắng
Cafe đen không bắt măt
Nhưng thơm nồng
Chút đường thơm
Ngọt và đắng hòa làm một......
Người nói có Tín mới có Yêu
Có cả rừng Điều mới chiều được em
Yêu em anh chẳng dám thèm
Một ly Giọt Đắng
Một Dòng Thời Gian....
Có bao nhiêu tình............Tình........
Tình yêu là một phép mầu
Ai yêu cũng bẩu người yêu mình tài
Cho dù cũng chẳng đẹp trai
Ai yêu cũng nựng "anh zai nhà mình".
Tình yêu đứng nửa chữ Tình
Tình yêu đứng nửa chữ Tình
Người yêu chỉ biết có mình người yêu
Tình yêu một chút cũng chiều
Biết bao Tình khác cho diều đứt dây.....
23 thg 8, 2013
Dream on (cứ mơ đi)
Giấc mơ, tuy không hiện hữu ngày trước mắt, nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy. Nhưng giấc mơ không thể thiếu trong tâm hồn. Vui ta mơ, buồn ta mơ và mơ nhiều nhất là lúc ta cô đơn. Một giọng hát trầm buồn, những giọt nhạc vương vãi khắp quanh. Giống như lạc, như cái cách mà người ta thường cho là "điên, cuồng, ngu, ngộ". Thiết nghĩ tại vì cái tham, sân , si quá lớn trong con người. Tham lam, đến mơ cũng tham lam. Người ta thường mơ về những gì người ta không có được trong thực tại. Mơ rằng mình có, mơ rằng mình được, mơ và cứ mơ đi. Mơ chẳng mất tiền mua, mơ chẳng mất thuế thân, thuế thu nhập và chẳng ai đọ giấc mơ xem thiệt hơn.
Ghét cái thói đời, thích cười nhạo nhau cho sướng cái miệng. Người tự trọng thấy nó là điều nhục nhã. Người đứt dây thần kinh tự trọng thấy đó là niềm hạnh phúc vì được sống trong "cửa miệng người đời". Là con người nhưng thật khó hiểu hết con người. Đố ai làm được bảng phân loại con người, giống người, phẩm người và thói người.
Cớ sao lại cười, cớ sao lại nhạo báng người khác, hay đó là thú vui của con người. Người ta ngủ mớ thấy ác mộng, hoảng hốt kêu than. Người mơ thấy chuyện vui thì mỉm cười. Nhưng mấy ai nhớ được đầy đủ giấc mơ hạnh phúc hơn là ác mộng ghê người?
Trạng thái của kẻ mộ đạo chân chính là luôn dằn vặt "ta đã làm gì cho cuộc sống hôm nay".....Trong khi ta ngẫm nghĩ nên hay không nên, làm thế nào cho người khác vui và thoải mái, đối xử ra sao cho hợp tình, hợp lí, ngẫm sâu về cái khổ, thổ lộ về nỗi đau. Nhưng than ôi. Khi ta ngồi và suy nghĩ thì không biết chừng có kẻ đang âm mưu cho ta dạo chơi một vòng địa phủ. Người tốt, người xấu, ta có cả hai. Nhưng ta lại không biết cách cân bằng và điều chỉnh hai cái trạng thái ấy để cho phần về mình luôn là lợi ích. Đó ắt hẳn là hành động của những kẻ ngu xuẩn. Và ta là một kẻ ngu xuẩn, ngốc nghếch. Bây giờ thì ko có rừng bạch dương, không có gốc bạch dương cổ thụ, và ta không thể là Ivan ngốc nghếch gặp may được đâu.
Dream on trong những câu chuyện cổ làm ta thanh lọc tâm hồn. Khát khao về tuổi thơ. Quả thực, không thời gian nào đẹp bằng "thời thơ ấu".......
22 thg 8, 2013
Về ông Bụt
1. Nguồn gốc từ Bụt trong dân gian:
Đạo Phật đến nước ta vào đầu Tây lịch khi nhân dân Việt Nam đang sống những tháng ngày nô lệ Bắc thuộc. Người dân Việt Nam lúc bấy giờ chỉ cầu mong một cuộc sống tự do, thanh bình, giải thoát khỏi những gông kiềm ngoại quốc. Trong hoàn cảnh đó Phật giáo đã xuất hiện và mau chóng trở thành chỗ dựa tinh thần cho một dân tộc đang bị mất nước. "Phật giáo lấy lý tính làm chủ đạo, lấy sự giác ngộ để giải thoát, giải cứu"(1) vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi Phật giáo hoà nhập vào tín ngưỡng dân gian, trở thành nơi gởi gắm niềm tin của nhân dân lao động.
"Phật - tiếng Phạn là Buddha (âm Hán Việt là Phật Đà, gọi tắt là Phật) nghĩa là bậc giác ngộ viên mãn. Từ tiếng Phạn Buddha, người Việt Nam ngày xưa đọc là Bụt"(2)
"Chúng ta thấy cái tên đức Chúa hay đức Mẹ truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XVI kể đến nay đã hơn 400 năm mà vẫn chưa thể nào quen với tâm lý dân tộc. Trái lại cái tên Bụt, Tiên cũng là mượn của những thứ tôn giáo ngoại lai nhưng đã trở thành truyền thống, vì từ rất xưa, những tôn giáo này đã từng hoá thân vào đời sống dân tộc, chấp nhận những thứ thanh lọc gay gắt, trở thành tôn giáo chung chi phối tâm linh của cộng đồng"(3)
2. Sự chuyển nghĩa từ đức Phật tôn giáo đến ông Bụt dân gian:
Từ khi hòa nhập vào tín ngưỡng dân gian và được dân gian hóa thì hình tượng Bụt trong dân gian không còn nguyên vẹn ý nghĩa là bậc giác ngộ như trong giáo lý đạo Phật. Bụt không còn là một đấng Thích Ca uy nghiêm trầm mặc ngự trên toà sen cao chín bệ ở trong các ngôi chùa nữa. Mà Phật bây giờ đã trở thành Bụt - một ông Phật của dân gian, một vị thần của dân gian, một ông Bụt hiền, Bụt lành đầy quyền năng phép màu nhưng không cao siêu huyền bí mà gần gũi cạnh bên. Bụt trong tâm thức của dân gian là một ông thần Thiện có quyền năng tuyệt đối, có thể nghe thấu được mọi ước vọng, mọi lời cầu xin của người bất hạnh, nghèo khổ. Ông Bụt luôn luôn xuất hiện bên cạnh những người chân thật hiền lành, yếu đuối khi họ bị các thế lực mạnh hơn ức hiếp. Ông Bụt còn là vị quan toà đứng ra giải quyết mọi bất công trong xã hội dân gian xa xưa, trừng trị kẻ ác đem lại thanh bình yên vui cho người nghèo khổ, hiền lành.
Từ một con người của tôn giáo, đức Phật trở thành một con người của dân gian, được dân gian âu yếm gọi bằng một cái tên thân thương, bình dân là "Bụt". Ông Bụt ấy không mặc áo cà sa, không xuống tóc, không ngồi xếp bằng dưới bóng cây bồ đề mà lại xuất hiện trong hình dáng của một ông già râu tóc bạc phơ giống một ông Tiên hơn là một đức Phật.
"Các nhân vật vốn là biểu tượng của tôn giáo như Bụt, Tiên, Ngọc Hoàng ... đều đã được cái nhìn thực tiễn của dân gian - dân tộc nhân cách hoá để trở thành lực lượng cứu tinh đối với mọi người dân cùng khổ.."(4)
Việt Nam là một đất nước đa tôn giáo nhưng qua nhiều biến động lịch sử và qua sự thanh lọc gay gắt của thời gian, của tâm lý dân tộc thì những tôn giáo còn tồn tại trong tín ngưỡng dân gian không nhiều. Qua lịch sử văn học dân gian ta có thể thấy được Phật giáo chính là tôn giáo phù hợp nhất với tâm lý của nhân dân lao động Việt nam và đã chiếm lĩnh hoàn toàn đời sống tinh thần của họ. Dù được chuyển hoá dưới hình thức nào đi nữa như là một ông Tiên hay một ông Thần thì ta vẫn biết đó chính là đức Phật Thích Ca được nhìn qua con mắt của người dân lao động.
Từ biểu trưng tôn giáo, hình tượng Bụt đi vào dân gian và được thể hiện bằng nhiều hình ảnh đặc sắc trong văn học. Đặc biệt trong tục ngữ, ca dao hình tượng Bụt đã được chuyển hóa với nhiều hàm nghiã phong phú. Tùy theo tính chất đặc trưng cuả từng thể loại, ý nghĩa của hình tượng Bụt được thể hiện khác nhau trong tục ngữ, ca dao.
3. Những xu hướng chung quy định sự hình thành các hàm nghĩa của hình tượng Bụt trong tục ngữ và ca dao:
a. Hình tượng Bụt trong tục ngữ:
Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa, nghĩa đen và nghĩa bóng (nghĩa đen là nghĩa gốc chỉ ý nghĩa trực tiếp, ý nghĩa ban đầu khi mới hình thành câu tục ngữ. Còn nghĩa bóng là ý nghĩa được lan tỏa, mở rộng qua quá trình lưu truyền trong không gian và thời gian)
Lối nói bằng tục ngữ thường là một lối nói ẩn dụ, hình thức thể hiện súc tích, giàu hình ảnh, do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng thâm trầm, những khái quát rộng rãi.
Tục ngữ là tấm gương phản ánh, qua lời nói hàng ngày, mọi biểu tượng của đời sống dân tộc và quan niệm của nhân dân về lao động, về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, về tôn giáo.(5)
Hình tượng Bụt trong tục ngữ thường được thể hiện dưới nhiều lớp nghĩa phong phú, nghĩa đen thường là để chỉ việc thờ cúng Bụt trong tín ngưỡng dân gian, các cúng phẩm như hương, xôi, oản, lộc Bụt... cũng được nhắc đến nhiều lần. Đồng thời cũng có không ít các câu tục ngữ nhắc đến các cơ sở vật chất có liên quan đến tôn giáo như chùa chiền, bệ thờ, đất nặn Bụt, phong cảnh Bụt, áo cà sa, tiền Bụt.... Qua đó nhân dân lao đã thể hiện thái độ tôn kính, sùng bái hay thân mật, gần gũi của mình đối với ông Bụt - đức Phật Thích Ca trong tâm thức dân gian.
Nghĩa bóng của những câu tục ngữ có hình tượng Bụt đa số là dùng để nói đến các phạm trù đạo đức, lối sống, cách cư xử hàng ngày của người dân lao động. Qua hình tựơng Bụt nhân dân thường có ẩn ý khen ngợi những con người hiền lành, sống có nghĩa, có nhân trong xã hội. Đồng thời cũng qua đó mà ám chỉ phê phán những kẻ giả danh tôn giáo làm điều xằng bậy. Sâu xa hơn trong ýnghĩa của những câu tục ngữ này là lời khuyên răn chân thành của cha ông đối với con cháu, hãy nghe theo lời Phật mà làm lành tránh dữ, siêng năng thờ cúng để được đấng thiêng liêng phù hộ độ trì.
b. Hình tượng Bụt trong ca dao :
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca dã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy....hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể "bẻ" thành những làn điệu dân ca. Ca dao - dân ca dù được biểu hiện dưới hình thức nào đi nữa cũng đều tập trung phản ánh một cái tôi trữ tình tập thể: tâm hồn nhân dân lao động, tâm hồn dân tộc Việt Nam(6)
Hình tượng ông Bụt trong ca dao không được thể hiện tập trung như là trong tục ngữ. Đa số nội dung của các câu ca dao thường là mượn hình tượng Bụt hoặc những vấn đề có liên quan đến Bụt để nói đến một nội dung, ý nghĩa khác nhiều khi chẳng ăn nhập gì với hình tượng Bụt đã dùng trong câu mở đầu. Hình tượng Bụt đôi khi chỉ là một cái cớ để dân gian triển khai một ý đồ khác.
Cũng như vậy, ở một số bài ca dao hay đồng dao có dung lượng cỡ từ 10 câu trở lên dù có nhắc đến hình tượng Bụt cũng không chứa đựng một ý nghĩa đặc biệt gì về Bụt mà chỉ là "nhân tiện" nhắc đến Bụt cùng với các sự vật khác. Vì thế ở những câu ca dao này hoàn toàn không còn mang ý nghĩa tôn giáo mà cũng chẳng phải là thể hiện ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian .
Ở những câu ca dao tập trung vào hình tượng Bụt thì thường gắn liền với các hình thức thờ cúng, nhắc đến ngày rằm hàng tháng hay các ngày lễ lớn hàng năm của đạo Phật. Có nhiều câu miêu tả kiến trúc chùa chiền, các đạo cụ dùng trong nghi lễ như mõ, chuông .. và tất nhiên cũng không quên nhắc đến những người tu hành theo đạo Phật như sư, vãi...
Một đều đáng lưu ý hơn nữa là có một bộ phận các câu ca dao sử dụng lại tục ngữ có hình tượng Bụt trong nội dung của mình. Vì thế khi đi vào phân tích ý nghĩa của các câu ca dao này ta lại dễ dàng bắt gặp ý nghĩa của những câu tục ngữ đã được phân tích ở trên
Đạo Phật đến nước ta vào đầu Tây lịch khi nhân dân Việt Nam đang sống những tháng ngày nô lệ Bắc thuộc. Người dân Việt Nam lúc bấy giờ chỉ cầu mong một cuộc sống tự do, thanh bình, giải thoát khỏi những gông kiềm ngoại quốc. Trong hoàn cảnh đó Phật giáo đã xuất hiện và mau chóng trở thành chỗ dựa tinh thần cho một dân tộc đang bị mất nước. "Phật giáo lấy lý tính làm chủ đạo, lấy sự giác ngộ để giải thoát, giải cứu"(1) vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi Phật giáo hoà nhập vào tín ngưỡng dân gian, trở thành nơi gởi gắm niềm tin của nhân dân lao động.
"Phật - tiếng Phạn là Buddha (âm Hán Việt là Phật Đà, gọi tắt là Phật) nghĩa là bậc giác ngộ viên mãn. Từ tiếng Phạn Buddha, người Việt Nam ngày xưa đọc là Bụt"(2)
"Chúng ta thấy cái tên đức Chúa hay đức Mẹ truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XVI kể đến nay đã hơn 400 năm mà vẫn chưa thể nào quen với tâm lý dân tộc. Trái lại cái tên Bụt, Tiên cũng là mượn của những thứ tôn giáo ngoại lai nhưng đã trở thành truyền thống, vì từ rất xưa, những tôn giáo này đã từng hoá thân vào đời sống dân tộc, chấp nhận những thứ thanh lọc gay gắt, trở thành tôn giáo chung chi phối tâm linh của cộng đồng"(3)
2. Sự chuyển nghĩa từ đức Phật tôn giáo đến ông Bụt dân gian:
Từ khi hòa nhập vào tín ngưỡng dân gian và được dân gian hóa thì hình tượng Bụt trong dân gian không còn nguyên vẹn ý nghĩa là bậc giác ngộ như trong giáo lý đạo Phật. Bụt không còn là một đấng Thích Ca uy nghiêm trầm mặc ngự trên toà sen cao chín bệ ở trong các ngôi chùa nữa. Mà Phật bây giờ đã trở thành Bụt - một ông Phật của dân gian, một vị thần của dân gian, một ông Bụt hiền, Bụt lành đầy quyền năng phép màu nhưng không cao siêu huyền bí mà gần gũi cạnh bên. Bụt trong tâm thức của dân gian là một ông thần Thiện có quyền năng tuyệt đối, có thể nghe thấu được mọi ước vọng, mọi lời cầu xin của người bất hạnh, nghèo khổ. Ông Bụt luôn luôn xuất hiện bên cạnh những người chân thật hiền lành, yếu đuối khi họ bị các thế lực mạnh hơn ức hiếp. Ông Bụt còn là vị quan toà đứng ra giải quyết mọi bất công trong xã hội dân gian xa xưa, trừng trị kẻ ác đem lại thanh bình yên vui cho người nghèo khổ, hiền lành.
Từ một con người của tôn giáo, đức Phật trở thành một con người của dân gian, được dân gian âu yếm gọi bằng một cái tên thân thương, bình dân là "Bụt". Ông Bụt ấy không mặc áo cà sa, không xuống tóc, không ngồi xếp bằng dưới bóng cây bồ đề mà lại xuất hiện trong hình dáng của một ông già râu tóc bạc phơ giống một ông Tiên hơn là một đức Phật.
"Các nhân vật vốn là biểu tượng của tôn giáo như Bụt, Tiên, Ngọc Hoàng ... đều đã được cái nhìn thực tiễn của dân gian - dân tộc nhân cách hoá để trở thành lực lượng cứu tinh đối với mọi người dân cùng khổ.."(4)
Việt Nam là một đất nước đa tôn giáo nhưng qua nhiều biến động lịch sử và qua sự thanh lọc gay gắt của thời gian, của tâm lý dân tộc thì những tôn giáo còn tồn tại trong tín ngưỡng dân gian không nhiều. Qua lịch sử văn học dân gian ta có thể thấy được Phật giáo chính là tôn giáo phù hợp nhất với tâm lý của nhân dân lao động Việt nam và đã chiếm lĩnh hoàn toàn đời sống tinh thần của họ. Dù được chuyển hoá dưới hình thức nào đi nữa như là một ông Tiên hay một ông Thần thì ta vẫn biết đó chính là đức Phật Thích Ca được nhìn qua con mắt của người dân lao động.
Từ biểu trưng tôn giáo, hình tượng Bụt đi vào dân gian và được thể hiện bằng nhiều hình ảnh đặc sắc trong văn học. Đặc biệt trong tục ngữ, ca dao hình tượng Bụt đã được chuyển hóa với nhiều hàm nghiã phong phú. Tùy theo tính chất đặc trưng cuả từng thể loại, ý nghĩa của hình tượng Bụt được thể hiện khác nhau trong tục ngữ, ca dao.
3. Những xu hướng chung quy định sự hình thành các hàm nghĩa của hình tượng Bụt trong tục ngữ và ca dao:
a. Hình tượng Bụt trong tục ngữ:
Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa, nghĩa đen và nghĩa bóng (nghĩa đen là nghĩa gốc chỉ ý nghĩa trực tiếp, ý nghĩa ban đầu khi mới hình thành câu tục ngữ. Còn nghĩa bóng là ý nghĩa được lan tỏa, mở rộng qua quá trình lưu truyền trong không gian và thời gian)
Lối nói bằng tục ngữ thường là một lối nói ẩn dụ, hình thức thể hiện súc tích, giàu hình ảnh, do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng thâm trầm, những khái quát rộng rãi.
Tục ngữ là tấm gương phản ánh, qua lời nói hàng ngày, mọi biểu tượng của đời sống dân tộc và quan niệm của nhân dân về lao động, về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, về tôn giáo.(5)
Hình tượng Bụt trong tục ngữ thường được thể hiện dưới nhiều lớp nghĩa phong phú, nghĩa đen thường là để chỉ việc thờ cúng Bụt trong tín ngưỡng dân gian, các cúng phẩm như hương, xôi, oản, lộc Bụt... cũng được nhắc đến nhiều lần. Đồng thời cũng có không ít các câu tục ngữ nhắc đến các cơ sở vật chất có liên quan đến tôn giáo như chùa chiền, bệ thờ, đất nặn Bụt, phong cảnh Bụt, áo cà sa, tiền Bụt.... Qua đó nhân dân lao đã thể hiện thái độ tôn kính, sùng bái hay thân mật, gần gũi của mình đối với ông Bụt - đức Phật Thích Ca trong tâm thức dân gian.
Nghĩa bóng của những câu tục ngữ có hình tượng Bụt đa số là dùng để nói đến các phạm trù đạo đức, lối sống, cách cư xử hàng ngày của người dân lao động. Qua hình tựơng Bụt nhân dân thường có ẩn ý khen ngợi những con người hiền lành, sống có nghĩa, có nhân trong xã hội. Đồng thời cũng qua đó mà ám chỉ phê phán những kẻ giả danh tôn giáo làm điều xằng bậy. Sâu xa hơn trong ýnghĩa của những câu tục ngữ này là lời khuyên răn chân thành của cha ông đối với con cháu, hãy nghe theo lời Phật mà làm lành tránh dữ, siêng năng thờ cúng để được đấng thiêng liêng phù hộ độ trì.
b. Hình tượng Bụt trong ca dao :
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca dã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy....hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể "bẻ" thành những làn điệu dân ca. Ca dao - dân ca dù được biểu hiện dưới hình thức nào đi nữa cũng đều tập trung phản ánh một cái tôi trữ tình tập thể: tâm hồn nhân dân lao động, tâm hồn dân tộc Việt Nam(6)
Hình tượng ông Bụt trong ca dao không được thể hiện tập trung như là trong tục ngữ. Đa số nội dung của các câu ca dao thường là mượn hình tượng Bụt hoặc những vấn đề có liên quan đến Bụt để nói đến một nội dung, ý nghĩa khác nhiều khi chẳng ăn nhập gì với hình tượng Bụt đã dùng trong câu mở đầu. Hình tượng Bụt đôi khi chỉ là một cái cớ để dân gian triển khai một ý đồ khác.
Cũng như vậy, ở một số bài ca dao hay đồng dao có dung lượng cỡ từ 10 câu trở lên dù có nhắc đến hình tượng Bụt cũng không chứa đựng một ý nghĩa đặc biệt gì về Bụt mà chỉ là "nhân tiện" nhắc đến Bụt cùng với các sự vật khác. Vì thế ở những câu ca dao này hoàn toàn không còn mang ý nghĩa tôn giáo mà cũng chẳng phải là thể hiện ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian .
Ở những câu ca dao tập trung vào hình tượng Bụt thì thường gắn liền với các hình thức thờ cúng, nhắc đến ngày rằm hàng tháng hay các ngày lễ lớn hàng năm của đạo Phật. Có nhiều câu miêu tả kiến trúc chùa chiền, các đạo cụ dùng trong nghi lễ như mõ, chuông .. và tất nhiên cũng không quên nhắc đến những người tu hành theo đạo Phật như sư, vãi...
Một đều đáng lưu ý hơn nữa là có một bộ phận các câu ca dao sử dụng lại tục ngữ có hình tượng Bụt trong nội dung của mình. Vì thế khi đi vào phân tích ý nghĩa của các câu ca dao này ta lại dễ dàng bắt gặp ý nghĩa của những câu tục ngữ đã được phân tích ở trên
Câu chuyện của Lợn
"Ban đêm, lợn đực lúc nào cũng thức để trông cho lợn
cái. Nó sợ, thừa lúc chúng ngủ say, người ta sẽ đến bắt lợn cái đem đi thịt.
Ngày lại ngày, lợn cái càng béo trắng
nõn nà, lợn đực càng gầy đi trông thấy.
Đến một ngày, lợn đực tình cờ nghe
được ông chủ nói chuyện với tay đồ tể. Ông ta muốn thịt lợn cái đang béo tốt. Lợn
đực nghe vậy mà lòng đau khổ khôn cùng.
Thế là từ lúc đó, tính tình lợn đực
thay đổi hẳn. Mỗi lần ông chủ mang đồ ăn đến là lợn đực ta giành ăn bằng sạch,
ăn xong nó lại nằm ườn ra ngủ như chết. Nó còn nói với lợn cái, từ giờ ban đêm
phải canh gác thay cho nó. Nếu phát hiện ra không chịu canh thì nó sẽ không bao
giờ quan tâm đến lợn cái nữa. Thời gian qua đi, lợn cái cảm thấy lợn đực càng
ngày càng không để ý gì đến mình nữa. Lợn cái buồn bã, thất vọng vô cùng. Còn lợn
đực hàng ngày vẫn vô tư, vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra.
Ngoảnh đi ngoảnh lại một tháng qua
đi, ông chủ dẫn tay đồ tể đến chuồng lợn. Ông ta thấy lợn cái trước đây đẫy đà,
nõn nường là thế giờ chẳng còn lại được bao nhiêu thịt. Còn lợn đực lại trở nên
béo trắng hẳn ra. Lúc này, lợn đực ta liền chạy thục mạng xung quanh chuồng, nó
muốn thu hút sự chú ý của ông chủ, chứng tỏ nó là con lợn béo tốt, khỏe mạnh.
Cuối cùng thì tay đồ tể cũng bắt lợn
đực đi. Khoảnh khắc bị lôi ra khỏi chuồng, lợn đực vẫn cười và nói với lại với
lợn cái: “Sau này em nhớ đừng ăn nhiều nhé!” Lợn cái đau xót cùng cực, định
xông ra theo chồng, nhưng cửa chuồng đã đóng sầm trước mặt nó. Qua hàng rào tre
lợn cái vẫn nhìn thấy ánh mắt chớp chớp của lợn đực.
Tối hôm đó, lợn cái nhìn nhà chủ vui
vẻ, quây quần bên nhau ăn thịt lợn, nó buồn bã thả mình nằm xuống nơi trước đây
lợn đực vẫn nằm. Đột nhiên nó phát hiện thấy trên tường có dòng chữ: “ Nếu tình
yêu không thể diễn đạt được bằng lời, anh nguyện dùng sinh mạng để chứng minh.”
Lợn cái đọc xong dòng chữ mà lòng đau quặn thắt.
Loài người nghe xong câu chuyện tình
đẹp mà buồn này không khỏi động lòng. Chị em nữ giới để tưởng nhớ mối tình này,
bắt đầu đua nhau giảm béo…"
Tình đẹp như mơ
LỜI BÀI HÁT
梦里 - 周杰&林心如
meng li ting dao ni de di su yao wei wo zhe feng shuang yu lu
梦 里 听 到 你 的 低 诉 要 为 我 遮 风 霜 雨 露
meng li ting dao ni de hu huan yao wei wo zhu ai de gong qiang
梦 里 听 到 你 的 呼 唤 要 为 我 筑 爱 的 宫 墙
yi ju yi ju yi sheng yi sheng su shuo zhe di lao he tian huang
一 句 一 句 一 声 一 声 诉 说 着 地 老 和 天 荒
yi si yi si yi lv yi lv su shuo zhe di jiu he tian chang
一 丝 一 丝 一 缕 一 缕 诉 说 着 地 久 和 天 长
meng li kan dao ni de yan guang shan yao zhe wu jin de qi wang
梦 里 看 到 你 的 眼 光 闪 耀 着 无 尽 的 期 望
meng li kan dao ni de lei guang ning ju zhe wu jin de chi kuang
梦 里 看 到 你 的 泪 光 凝 聚 着 无 尽 的 痴 狂
yi ju yi ju yi sheng yi sheng su shuo zhe di lao he tian huang
一 句 一 句 一 声 一 声 诉 说 着 地 老 和 天 荒
yi si yi si yi lv yi lv su shuo zhe di jiu he tian chang
一 丝 一 丝 一 缕 一 缕 诉 说 着 地 久 和 天 长
wo tian cang cang di mang mang ni shi wo yong heng de yang guang
喔 ... 天 苍 苍 地 茫 茫 你 是 我 永 恒 的 阳 光
shan wu leng tian di he ni shi wo yong jiu de tian tang
山 无 稜 天 地 合 你 是 我 永 久 的 天 堂
meng li ting dao ni de di su yao wei wo zhe feng shuang yu lu
梦 里 听 到 你 的 低 诉 要 为 我 遮 风 霜 雨 露
meng li ting dao ni de hu huan yao wei wo zhu ai de gong qiang
梦 里 听 到 你 的 呼 唤 要 为 我 筑 爱 的 宫 墙
yi ju yi ju yi sheng yi sheng su shuo zhe di lao he tian huang
一 句 一 句 一 声 一 声 诉 说 着 地 老 和 天 荒
yi si yi si yi lv yi lv su shuo zhe di jiu he tian chang
一 丝 一 丝 一 缕 一 缕 诉 说 着 地 久 和 天 长
meng li kan dao ni de yan guang shan yao zhe wu jin de qi wang
梦 里 看 到 你 的 眼 光 闪 耀 着 无 尽 的 期 望
meng li kan dao ni de lei guang ning ju zhe wu jin de chi kuang
梦 里 看 到 你 的 泪 光 凝 聚 着 无 尽 的 痴 狂
yi ju yi ju yi sheng yi sheng su shuo zhe di lao he tian huang
一 句 一 句 一 声 一 声 诉 说 着 地 老 和 天 荒
yi si yi si yi lv yi lv su shuo zhe di jiu he tian chang
一 丝 一 丝 一 缕 一 缕 诉 说 着 地 久 和 天 长
wo tian cang cang di mang mang ni shi wo yong heng de yang guang
喔 ... 天 苍 苍 地 茫 茫 你 是 我 永 恒 的 阳 光
shan wu leng tian di he ni shi wo yong jiu de tian tang
山 无 稜 天 地 合 你 是 我 永 久 的 天 堂
21 thg 8, 2013
Tạm biệt nhé!
Nếu mai này con phải đi xa
Sẽ nhớ lắm sân trường đầy nắng
Mùa hè đến xôn xao kỉ niệm
Cánh phượng hồng e ấp tuổi thơ
Nếu mai này con phải đi xa
Chắc nhớ lắm cây bàng, hàng ghế
Giờ ra chơi vui đùa nghịch ngợm
Cô bạn cùng bàn má lúm xinh xinh
Nếu mai này con phải đi xa
Sẽ không quên những ngày nhỏ dại
Buổi đầu tiên mẹ đưa vào lớp
Cô giáo cười tỏa nắng mùa thu
Ngày mai ấy chắc rồi sẽ đến
Đó là ngày con phải xa cô
Cô ơi cô, cô đừng buồn nhé
Con sẽ về vào những mùa hoa.
Kí tên: Tú Chim
Thân tặng các cô giáo thân thương, và gửi tới những người bạn thời thơ ấu của tôi. Cám ơn cô đã dạy con nhiều đến thế. Các bạn ơi Yến nhớ các bạn nhiều, có ai ở lớp 5A1 không?
Sẽ nhớ lắm sân trường đầy nắng
Mùa hè đến xôn xao kỉ niệm
Cánh phượng hồng e ấp tuổi thơ
Nếu mai này con phải đi xa
Chắc nhớ lắm cây bàng, hàng ghế
Giờ ra chơi vui đùa nghịch ngợm
Cô bạn cùng bàn má lúm xinh xinh
Nếu mai này con phải đi xa
Sẽ không quên những ngày nhỏ dại
Buổi đầu tiên mẹ đưa vào lớp
Cô giáo cười tỏa nắng mùa thu
Ngày mai ấy chắc rồi sẽ đến
Đó là ngày con phải xa cô
Cô ơi cô, cô đừng buồn nhé
Con sẽ về vào những mùa hoa.
Kí tên: Tú Chim
Thân tặng các cô giáo thân thương, và gửi tới những người bạn thời thơ ấu của tôi. Cám ơn cô đã dạy con nhiều đến thế. Các bạn ơi Yến nhớ các bạn nhiều, có ai ở lớp 5A1 không?
Bình bài "Tràng giang" của Huy Cận
Hôm nay thi bình thơ. Xưa toàn thấy người ta lấy văn xuôi để bình thơ, nay Tú Chim xin lấy thơ để bình thơ, đọc cho cô giáo nghe, cô giáo khen độc đáo. Nhưng tiếc có người lại nghi không phải do Tú Chim làm. Người đời thường hay ghen tị khi không làm được như người khác và Chim cũng vậy. Chim rất ghen tị khi Chim không học giỏi bằng các bạn, không tự tin bằng các bạn. Nhưng Chim sẽ không từ bỏ, Chim đã mơ gì và Chim sẽ làm điều đó)
Người buồn, người dạo bước bên sông
Con nước chảy xuôi, nước ngược dòng
Thi sĩ âu sầu nghiêng bút viết
"Củi một cành khô lạc mấy dòng"
Trời cao, đất rộng, lòng sông thẳm
Sông dài bến đợi hoài thuyền ai?
Tức cảnh sinh tình là thế đấy
Đâu cần khói sóng, chợt tỉnh mơ!
Rợn ngợp đất trời, người bé nhỏ
Cánh bèo trôi dạt mấy mùa thôi
"Chim nghiêng cánh nhỏ", hoàng hôn xuống
Một chiều em dịu, một chiều thương
Mươi mấy câu thơ một chữ sầu
Nỗi sầu xa thẳm, nỗi sầu thương
Giữa cảnh thiên nhiên thi vị thế
Mà lòng thi sĩ nhuộm hoàng hôn.
Người buồn, người dạo bước bên sông
Con nước chảy xuôi, nước ngược dòng
Thi sĩ âu sầu nghiêng bút viết
"Củi một cành khô lạc mấy dòng"
Trời cao, đất rộng, lòng sông thẳm
Sông dài bến đợi hoài thuyền ai?
Tức cảnh sinh tình là thế đấy
Đâu cần khói sóng, chợt tỉnh mơ!
Rợn ngợp đất trời, người bé nhỏ
Cánh bèo trôi dạt mấy mùa thôi
"Chim nghiêng cánh nhỏ", hoàng hôn xuống
Một chiều em dịu, một chiều thương
Mươi mấy câu thơ một chữ sầu
Nỗi sầu xa thẳm, nỗi sầu thương
Giữa cảnh thiên nhiên thi vị thế
Mà lòng thi sĩ nhuộm hoàng hôn.
Bình bài " Vội vàng" của Xuân Diệu
Có bấy nhiêu đâu một chữ vội vàng
Vội vàng chi hỡi vội vàng ơi
Đời cho người sống được mấy chốc
Người sống vội vàng, người sống tham lam.
Thi sĩ họ Ngô rõ lạ lùng
Cuộc đời còn đó nào đã không?
Do đâu cứ sợ mùa đi mất
Tình đến vừa tròn, tình vội tan?
"Suốt buổi xuân xanh tràn ý vị
Thấy tình rạo rực và tình si"
Nhưng sao tình thắm người không lỡ
Phải chăng người sợ cuộc chia li?
Mái tóc bồng bềnh, đôi mắt biếc
Nhiều lần điên dại một chữ si
Chàng yêu cuộc sống đẹp biết mấy
Yêu thế bao nhiêu, sầu bấy nhiêu!
Có phải chỉ trong một buổi chiều
Người ta cắt được nghĩa chữ yêu
Chàng yêu là phải vội vàng thế
Đất trời cùng tận vẫn còn yêu!
Vội vàng chi hỡi vội vàng ơi
Đời cho người sống được mấy chốc
Người sống vội vàng, người sống tham lam.
Thi sĩ họ Ngô rõ lạ lùng
Cuộc đời còn đó nào đã không?
Do đâu cứ sợ mùa đi mất
Tình đến vừa tròn, tình vội tan?
"Suốt buổi xuân xanh tràn ý vị
Thấy tình rạo rực và tình si"
Nhưng sao tình thắm người không lỡ
Phải chăng người sợ cuộc chia li?
Mái tóc bồng bềnh, đôi mắt biếc
Nhiều lần điên dại một chữ si
Chàng yêu cuộc sống đẹp biết mấy
Yêu thế bao nhiêu, sầu bấy nhiêu!
Có phải chỉ trong một buổi chiều
Người ta cắt được nghĩa chữ yêu
Chàng yêu là phải vội vàng thế
Đất trời cùng tận vẫn còn yêu!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
TÔI THÍCH ĐI CHỢ Tôi rất thích đi chợ. Đến chợ, họ bày la liệt hàng h...
-
Phân tích truyện ngắn “Không có vua”_Nguyễn Huy Thiệp Dàn ý: Tóm tắt truyện Đề tài, chủ đề Ý nghĩa nhan đề Tư tưởng của truyện...
-
TÔI THÍCH ĐI CHỢ Tôi rất thích đi chợ. Đến chợ, họ bày la liệt hàng h...










